ĐỒ HÌNH LỤC HÀO

Tĩnh tâm trước khi gieo quẻ. Mỗi quẻ một câu hỏi?
Vuốt ngang trong khung để xem đầy đủ quẻ.

Đồ hình là dữ kiện để luận. Cần phối hợp dụng thần, nhật nguyệt và hào động trước khi đưa ra nhận định.
Mỗi lượt gieo ba đồng xu: ngửa = 3, sấp = 2. Tổng 6: âm động; 7: dương tĩnh; 8: âm tĩnh; 9: dương động. Nhập lượt đầu ở hào Sơ, lượt cuối ở hào Thượng. Chức năng gieo ngẫu nhiên mô phỏng ba đồng xu với xác suất 1:3:3:1.
Vượng–Tướng–Hưu–Tù–Tử trong bảng chỉ là quan hệ ngũ hành với nguyệt kiến, chưa bao gồm nhật thần, hợp xung, mộ tuyệt, không phá và tác động của hào động.
Phục thần hiện khi lục thân ấy thiếu trong quẻ chủ, lấy từ quẻ bát thuần của bản cung. Khi luận lấy Thế–Ứng quẻ chủ làm gốc; cung riêng của quẻ biến chỉ hiển thị để tra cứu.
Tiết khí tính bằng thư viện lunar-javascript (MIT), quy đổi thời điểm UTC+7 sang UTC+8 của lịch thiên văn. Ngày Can Chi đổi lúc 00:00 giờ Việt Nam; giờ Tý là 23:00–00:59.
Quái thân: Thế dương khởi Tý, Thế âm khởi Ngọ từ hào Sơ, đếm thuận đến hào Thế của quẻ chủ. Lộc thần và Thiên Ất Quý Nhân lấy theo can ngày; Dịch Mã và Đào Hoa lấy theo tam hợp chi ngày. Các dấu hiệu này chỉ bổ trợ cho sinh khắc, dụng thần và động biến.
Quý Nhân dùng bảng: Giáp/Mậu/Canh tại Sửu–Mùi; Ất/Kỷ tại Tý–Thân; Bính/Đinh tại Hợi–Dậu; Tân tại Dần–Ngọ; Nhâm/Quý tại Mão–Tỵ. Quái thân chỉ an theo quẻ chủ; không tự an lại theo quẻ biến.
Nhãn V–S chỉ quan hệ ngũ hành với tháng tiết khí. Lục thân hai quẻ đều lấy cung quẻ chủ làm gốc.